Cùng Your Vacation Travel Tìm hiểu văn hóa tâm linh Việt Nam "Tứ bất tử" trong dân gian Việt Nam là ai?

Tứ Thánh bất tử hay Tứ bất tử là tên gọi 4 vị Thánh được tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ cúng gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh Công chúa. Mỗi vị tượng trưng cho một khát vọng và tinh thần của dân tộc Việt. Trong sử sách ghi chép có chỗ khác nhau về vị Thánh thứ tư, nhưng từ thời Hậu Lê, Tứ bất tử được định hình như trên và gắn chặt với lịch sử của Thăng Long Hà Nội. Ngày xuân kể lại truyền thuyết về tứ Thánh bất tử để mỗi người, đặc biệt lớp trẻ thêm tự hào khí thiêng sông núi và tín ngưỡng của ông cha.
Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương v.v.. Có thể thấy rằng mọi cơ cấu giá trị vật chất tinh thần nhiều khi được bắt đầu bằng “bộ tứ”. Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại. Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy.

Tứ bất tử là bốn vị thánh bất tử như đã nói là Đức Thánh Tản, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Bốn vị thánh này là biểu tượng của sự trường tồn, bất diệt của dân tộc ta theo tâm thức dân gian.
Đứng đầu Tứ Bất Tử là thánh Tản Viên. Truyện cổ tích thần kỳ kể rằng ông chính là Sơn Tinh được làm rể vua Hùng và vì thế mà có mối thù truyền kiếp gây nên chiến tranh với Thủy Tinh “Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen”. Sơn Tinh cũng được xem là đã làm vua Văn Lang và khuyên vua Hùng nhường ngôi cho vua Thục. Thần tích thì xem ông là vị Tổ đầu trong Bách nghệ tổ sư, cùng vợ là Ngọc Hoa dạy dân làm ruộng, săn bắt, dệt lụa, mở hội... 
“… Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”

Chử Đồng Tử là người Chữ Xá, huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh là con trai ông Chử Cù Vân thường được người ta tôn là Chử Đạo Tổ , Chữ Đồng Tử đã kết duyên với Tiên Dung Công Chúa , con gái Vua Hùng Vương, sự tích được kể rõ ràng trong Nam Hải Dị Nhân của Phan Kế Bính. Ngài là tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.
Chử Đồng Tử đi vào tâm thức dân gian không chỉ là người con hiếu thảo, nhân ái, mà còn là biểu tượng của một chí hướng phát triển cộng đồng: mở mang khai phá đồng bằng trũng lầy thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải và phát triển các ngành nghề khác, đặc biệt nghề buôn bán. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã mở một hướng mới cho sự phát triển dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài.
Thánh Chử Đồng Tử
Liễu Hạnh Công Chúa là người làng Vân Cát , huyện vụ bản tỉnh Nam Định , ái nữ của Lê Thái Công. Bà là người văn hay chữ tốt đã được triều đình sắc phong Công Chúa. Bà tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.
Trong tiềm thức của nhân dân, Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượng của khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình. Đó cũng là ý thức hệ nhân sinh của người dân Việt Nam đã được ký thác niềm tin vào biểu tượng người mẹ.
Theo nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện muộn nhất trong Tứ Thánh bất tử. Bà xuất hiện vào thời Hậu Lê, nhưng là vị Thánh được người dân dày công xây dựng và tôn thờ nhất. Trước đó trong xã hội xuất hiện rất nhiều vị nữ Thánh. Tập trung và nổi tiếng nhất là Tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu Cửu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải trị vì miền Trời, miền Rừng và miền Nước. Tuy nhiên các Thánh trên rất xa vời với mọi ước nguyện và tín ngưỡng của dân gian. Hơn thế các triều chính thời Hậu Lê  là một giai đoạn đặc biệt. Người ta bảo rằng đó là thời vua không ra vua. Vua mà nợ như chúa Chổm. Đã có vua lại còn có chúa. Chúa xuất hiện cả ở đàng Trong đàng Ngoài đối nghịch nhau... khiến cho xã hội loạn lạc, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, lắm khi oan khiên chồng chất. Thân phận người phụ nữ bị coi thường...Người dân cần có một bậc Thánh vừa uy linh, vừa gần gũi với đời sống nhân sinh, vừa thể hiện tinh thần phản kháng của người dân với chính quyền phong kiến đặc biệt trong đó có tiếng nói đòi bình đẳng của người phụ nữ. Ước vọng ấy đã hun đúc qua nhiều thời gian và hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời. Mẫu Liễu Hạnh thâu gom được cả ước vọng của người dân về Tam tòa Thánh Mẫu trong hình tượng một Thượng Thiên Thánh Mẫu của dân.
Xuất thân kỳ ảo mà gần gũi
Truyền thuyết về cuộc đời Thánh Mẫu Liễu Hạnh gắn chặt với không gian địa lý từ  Đèo Ngang, Quảng Bình trở ra tới miền cực Bắc Việt Nam. Hầu như tỉnh thành nào cũng có đền thờ Mẫu Liễu Hạnh, nhưng ba địa phương có các công trình thờ tự Mẫu Liễu quan trọng nhất là phủ Dầy, Nam Định; Tây Hồ Hà Nội và đền Sòng, Thanh Hóa.
Liều hạnh công chúa
Phù Đồng Thiên Vương hay Thánh Gióng là người đánh giắc Ân về đời vua Hùng Vương thứ VI, người làng Phủ Đổng , huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Thánh Gióng tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.
Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là hào khí của bản hùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại. Niềm tự hào, kính trọng về sức mạnh đoàn kết của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử, về trách nhiệm của mỗi con người đối với tổ quốc.

Tản Viên Sơn Thánh hay Sơn Tinh, là vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai.
Trong tâm thức dân gian của người Việt, Tản Viên là vị thánh biểu đạt cho những khả năng to lớn và vĩnh viễn của cộng đồng trong lao động sáng tạo ra nguồn của cải vô tận và trong chiến đấu chống thiên tai (lũ lụt) để bảo vệ cuộc sống chung. Tuy nhiên, đã có hai quan niệm và cách giải thích nguồn gốc của vị Thánh này.

Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” là một nét sáng tạo độc đáo, riêng biệt thuần túy của người Việt Nam được kết tinh từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước và giữ nước”, là một bộ phận không thể tách rời trong di sản văn hóa của dân tộc. Ngày nay, tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” tiếp tục làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; đồng thời góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.